CTCK chỉ ra 4 nhóm ngành có thể hưởng lợi từ Nghị quyết 79

Nghị quyết 79 đặt trọng tâm vào việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” cản trở tăng trưởng, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực then chốt của quốc gia như đất đai, ngân sách và doanh nghiệp nhà nước. Thông qua loạt chính sách mang tính đột phá, nghị quyết kỳ vọng tạo dư địa mới cho phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng tăng trưởng trong trung – dài hạn.

Trong báo cáo cập nhật mới nhất, KBSV nhận định Nghị quyết 79 – NQ/TW có thể tạo ra tác động lan tỏa đáng kể tới nhiều nhóm ngành cũng như các cổ phiếu niêm yết, đặc biệt là những doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước chi phối.

Đối với nhóm ngân hàng, định hướng mở rộng quy mô tài sản của các ngân hàng thương mại nhà nước được xem là điểm nhấn quan trọng, đồng thời mở ra triển vọng thúc đẩy quá trình tăng vốn trong những năm tới. Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu có ít nhất ba ngân hàng quốc doanh lọt vào top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á xét theo tổng tài sản.

Tính đến quý III/2025, tổng tài sản của VCB, CTG và BID lần lượt ước đạt khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, 2,7 triệu tỷ đồng và 3 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, quy mô tối thiểu của nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á hiện vào khoảng 150–200 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 5% mỗi năm.

Với lộ trình thực hiện trong 5 năm, để ba ngân hàng trên đạt được mục tiêu đề ra, tốc độ tăng trưởng tài sản bình quân hằng năm cần duy trì ở mức 13–17%, tương đương giai đoạn 2020–2025. Mức tăng trưởng cao này sẽ tạo áp lực đáng kể lên tỷ lệ an toàn vốn (CAR), qua đó làm gia tăng khả năng đẩy mạnh thoái vốn nhà nước hoặc thu hút nhà đầu tư chiến lược tham gia góp vốn tại các ngân hàng quốc doanh trong thời gian tới.

Song song với đó, Nghị quyết 79 cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời nâng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế được giữ lại. Cơ chế này tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng quốc doanh đẩy nhanh quá trình gia tăng vốn tự có thông qua lợi nhuận giữ lại, qua đó đáp ứng yêu cầu an toàn vốn và duy trì tăng trưởng bền vững trong trung và dài hạn.

Ở nhóm năng lượng và dầu khí, Nghị quyết xác định rõ vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước như EVN và PVN trong đầu tư, phát triển các dự án năng lượng trọng điểm, bao gồm điện hạt nhân và điện gió ngoài khơi, nhằm bảo đảm an ninh và an toàn năng lượng quốc gia. Đáng chú ý, quy trình pháp lý đối với các dự án hạ tầng năng lượng quan trọng do doanh nghiệp nhà nước triển khai được rút gọn đáng kể.

Cụ thể, các dự án lưới điện đã nằm trong quy hoạch điện lực được miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cũng như kế hoạch sử dụng, giao đất theo Nghị quyết 253/2025/QH15. Đồng thời, thẩm quyền điều chỉnh tổng mức đầu tư được nới lỏng hơn trong trường hợp phát sinh biến động theo Nghị quyết 666/2025, giúp nâng cao tính linh hoạt trong triển khai dự án.

Bên cạnh đó, nhằm phục vụ chiến lược đầu tư vào các doanh nghiệp mũi nhọn, doanh nghiệp nhà nước được khuyến khích huy động đa dạng nguồn vốn, bao gồm toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn, lợi nhuận sau thuế được giữ lại nhờ tăng tỷ lệ giữ lại, cũng như việc đánh giá lại giá trị tài sản đã hết khấu hao nhưng vẫn đang sử dụng. Những cơ chế này được kỳ vọng sẽ mở ra thêm dư địa cho khu vực tư nhân tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp tiềm năng do Nhà nước sở hữu.

Trong lĩnh vực công nghệ, Luật Công nghiệp số 2025 được xem là nền tảng quan trọng thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm công nghiệp số trong nước. Định hướng tích hợp dữ liệu số vào hoạt động sản xuất và đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nền kinh tế, cùng với các cơ chế ưu đãi đi kèm, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.

Đồng thời, Nghị quyết đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chi cho R&D lên mức 2% GDP, trong đó khu vực xã hội đóng góp hơn 60%. Cùng với đó là việc bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây được xem là nguồn lực then chốt hỗ trợ tăng trưởng dài hạn của các doanh nghiệp công nghệ trong nước.

Đối với ngành hàng không, Nghị quyết 79 cho phép doanh nghiệp nhà nước giữ lại lợi nhuận để bổ sung vốn điều lệ và tái đầu tư, qua đó tạo điều kiện để ACV và HVN cải thiện năng lực tài chính và chủ động hơn trong việc triển khai các dự án quy mô lớn như phát triển sân bay, mở rộng đội bay và đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng hàng không trọng điểm, hiện đại và quy mô lớn được kỳ vọng sẽ hỗ trợ mở rộng năng lực khai thác sân bay cũng như hệ thống quản lý bay.

Quá trình hiện đại hóa hạ tầng và công nghệ quản lý bay theo định hướng của Nghị quyết không chỉ nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh và khả năng hợp tác quốc tế của các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị logistics hàng không tại Việt Nam.

Ở khía cạnh thị trường vốn, Nghị quyết 79 – NQ/TW thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cổ phần hóa và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời thu hút thêm nguồn vốn từ khu vực ngoài ngân sách. Định hướng này gắn chặt với Luật số 56/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, theo đó doanh nghiệp niêm yết phải bảo đảm có tối thiểu 100 nhà đầu tư nhỏ lẻ nắm giữ ít nhất 10% số cổ phần có quyền biểu quyết. Quy định này buộc các doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu sở hữu tập trung phải đẩy nhanh lộ trình thoái vốn để đáp ứng yêu cầu pháp lý.

Dù tỷ lệ sở hữu 10% không quá lớn về mặt con số, nhưng yêu cầu trên được kỳ vọng sẽ góp phần gia tăng tính đại chúng của cổ phiếu, cải thiện thanh khoản trên thị trường và đóng vai trò như một “chất xúc tác” cho kỳ vọng tăng giá. Qua đó, môi trường thị trường trở nên thuận lợi hơn cho quá trình thoái vốn nhà nước trong thời gian tới.